Ý nghĩa ngôi chùa từ một bài thơ

Thứ ba - 26/06/2018 00:01

Khi nghĩ đến chùa, người ta liên tưởng đến một không gian an nhiên, trầm mặc, như một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian khói sương, mênh mang dâu bể; như bài kinh vô ngôn, làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện.

Ý nghĩa ngôi chùa từ một bài thơ

Ở đây, bài thơ mà tôi muốn nói là bài thơ của Lý Thiệp và bài thơ của Mạc Tử Sơn. Ngôn từ giống nhau, chỉ khác nhau về vị trí câu mà khác nhau xa vời về ý nghĩa, khiến chúng ta phải ngẫm nghĩ về giá trị của ngôi chùa và cả về nếp sống trong ngôi chùa đó.
终日昏昏醉梦间, 
忽闻春尽强登山。
因过竹院逢僧话,
又得浮生半日闲。
Chung nhật hôn hôn túy mộng gian
Hốt văn xuân tận cưỡng đăng san
Nhân quá trúc viện phùng tăng thoại
Hựu đắc phù sinh bán nhật nhàn.
Cảm hứng của nhà thơ chớm dậy từ đời sống thường nhật, giữa những bận rộn tất bậ, tâm tư như đang chập chờn trong cơn mộng say. Khi hay mùa xuân sắp hết, vội vã đi tìm một khoảng lặng giữa núi rừng, nghĩa là đi tìm chút thanh nhàn, chút buông xả để bù đắp cho tháng ngày miệt mài vật lộn trên trường công danh, phú quý. Đi qua viện trúc, tình cờ gặp nhà sư; ông đứng lại trò chuyện. Trò chuyện một lúc, nhà thơ chợt cảm thấy mình đã có được một nửa ngày nhàn trong suốt cả cuộc đời chìm nổi lênh đênh.
Khoảng một trăm năm sau, đời nhà Tống, có anh học trò Mạc Tử Sơn. Con đường công danh nhiều nhiêu khê nên thường tìm nơi núi rừng thanh vắng để quên đi nhọc nhằn thế sự. Một hôm, anh vào một ngôi chùa nhỏ giữa rừng trúc. Cảnh trí thanh tĩnh, u nhã, khiến khách trần phiền não đa đoan cảm thấy tâm tư thư thới. Khách cùng sư đàm đạo. Nhưng bất hạnh, khách đối diện với một vị Tăng quê mùa, thô lỗ, tuy tỏ vẻ ưa thích đàm luận văn chương. Chuyện trò càng lúc càng trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Bởi vị Tăng sính văn thơ, nay may gặp khách làng văn, nên cứ khẩn khoản lưu khách. Không tiện từ chối đột ngột, thư sinh xoay chuyển ý nghĩ, bèn mượn bút mực nhà chùa, đề lên vách 4 câu thơ: 
又得浮生半日閒,
忽聞春盡強登山。
因過竹院逢僧話,
終日昏昏醉夢間。
Hựu đắc phù sinh bán nhật nhàn
Hốt văn xuân tận cưỡng đăng san
Nhân quá trúc viện phùng tăng thoại
Chung nhật hôn hôn túy mộng gian.
Trong cuộc phù sinh, nhà thơ được nửa ngày nhàn. Chợt nghe mùa xuân sắp hết, nên vội vàng lên núi. Đây là nhàn hạ mà thưởng xuân, chứ không phải do bận rộn mà hay xuân muộn nên vội vã đi tìm một chút nhàn. Nhân đi ngang qua viện trúc, gặp nhà sư, cùng trò chuyện. Câu chuyện càng trở nên nhạt nhẽo, khiến cho một nửa ngày nhàn của nhà thơ bỗng hóa ra một ngày đần độn như trong cơn mộng say. Nhà sư sính văn thơ tất nhiên vui mừng hớn hở, cảm tưởng mình đang gặp hạnh vận nên nhà chùa lưu được bút tích với một bài thơ tuyệt hay. Ông không nghĩ rằng chính mình đã khiến cho khách ban đầu đến chùa với tâm hồn thanh nhã, thư thái; nhưng sau một buổi nói chuyện với sư, tâm trí trở thành hôn ám. Trời, thiên nhiên, vẫn vậy, nhưng tính cách phù phiếm của con người làm cho thiên nhiên bị phơi ra giữa kịch đời sáo rỗng.
Qua đây, ngôi chùa vốn tự thân nó mang ý nghĩa cao khiết, cho nên đòi hỏi những người “tạm trú” trong ngôi chùa phải làm thế nào để cho ý nghĩa đó hiện hữu giữa nếp sống thường nhật; và hãy trả lại giá trị đích thực hai chữ  tịnh xứ, hãy trả lại không gian bao la, yên tĩnh của ngôi chùa như câu chuyện về vua A Xà Thế - một bạo chúa giết cha để soán ngôi, một con người không hề biết dao động trước hành vi giết cha, bỗng nhiên lại rung động trước vẻ đẹp huyền hoặc, huyền diệu, của ánh trăng rằm, khiến ông nghĩ đến tư duy triết học, nghĩ đến vi hành tìm một triết gia hay đạo sỹ để luận đạo. Được một cận thần khuyến khích, ông nghiêm chỉnh voi, ngựa, với một đoàn quân ngự lâm hộ giá, rầm rộ kéo đến vườn xoài của y sỹ Kỳ-bà, nơi Đức Phật đang trú ngụ cùng với đại chúng gồm 1250 Tỳ kheo. Nhưng khi vừa thấy vườn xoài, nhà vua trẻ một thời hung tợn này chợt thấy trong lòng run sợ, lông tóc dựng đứng. Ông sợ cái gì? Ông không sợ binh hùng tướng mạnh của địch, không hề chùn chân trước rừng gươm giáo; nhưng sợ hãi trước sự cô liêu, u tịch của khu vườn: “Tại sao giữa một số đông có đến 1250 người, mà lại không có một tiếng động, một tiếng tằng hắng, hay một tiếng ho?” 
Như vậy, hãy trả lại ý nghĩa ban đầu của ngôi chùa để mãi là nơi trở về nương tựa và tu tập của hết thảy chúng sanh, là ngôi nhà của biết bao lữ khách và rồi biết đâu, từ trong sâu lắng, vẻ đẹp của ngôi chùa và tiếng chuông thanh thoát trong dòng chảy của nghiệp cảm, trong dòng đời xuôi ngược sẽ giúp chúng ta thấy rõ chính mình. Gương mặt xưa nay, thực tại bây giờ trong một tiếng chuông khuya giữa không gian sâu lắng!
Thiệu Long tam bảo, mùa hạ 2562
Tk. TTT

 

Tác giả bài viết: Tỳ kheo Thích Thanh Tâm


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 19
  •   Máy chủ tìm kiếm 1
  •   Khách viếng thăm 18
 
  •   Hôm nay 783
  •   Tháng hiện tại 46,286
  •   Tổng lượt truy cập 4,649,971
cau doi phat dan p