TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HT. THÍCH PHƯỚC MINH (1957 – 2026)

Facebookmail

I.Thân thế

 Hòa thượng họ Lê, húy Văn Dám, tục danh Lê Thụy Kim Sơn; Pháp danh Nguyên Hộ, tự Phước Minh, hiệu Quang Huy, sinh năm Đinh Dậu (1957) – (căn cước: 1961), tại quê ngoại thôn Hà Bình, xã Bình Đào, huyện Thăng Bình (nay là xã Thăng An, thành phố Đà Nẵng). Thân phụ là cụ ông Lê Thám, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Lòng. Song thân vốn nếp nhà hiền lương, kính Nho mộ Phật. Là trưởng nam trong gia đình có ba anh em, Hòa thượng sớm mang trong mình phúc ấm từ bi của tổ tiên gia tộc.

Nào ngờ đâu sự đời dâu bể: Tuổi thơ đành chịu cảnh mồ côi; Vắng bóng song thân giữa cuộc đời sóng gió, anh em côi cút nương tựa ngoại gia. Thế nhưng, chính trong ngọn lửa hồng, hoa sen lại trổ ngời sắc diệu. Ông bà ngoại vốn là Phật tử thuần thành nơi chốn tòng lâm Giác Hải. Từ những bữa cơm chay đạm bạc chốn quê nghèo, trong tiếng cầu kinh dưới mái hiên thanh tịnh, hạt giống Bồ-đề đã âm thầm bám rễ. Nhân cách thuần hậu, đạo tâm kiên cố của Hòa thượng được ươm mầm từ đó, mở ra một chân trời lồng lộng chí xuất trần.

II.Thời kỳ xuất gia học đạo

 Năm 1968- Mậu Thân, trần duyên rũ sạch: Nhờ người cậu ruột là Hòa thượng Thích Giải Chiếu dắt dìu, thiếu niên họ Lê cất bước đến chùa Hòa An đảnh lễ; Dưới tòa sen cố Trưởng lão Hòa thượng Từ Ý, vị thiếu niên thanh tú Kim Sơn chính thức thế phát xuất gia, bước vào đời sống thanh bần Khất sĩ.

Từ năm 1970 đến 1972, được sự hoan hỉ của Hòa thượng Bổn sư, Ngài theo cậu vân du tu học tại chùa Cẩm Hà (Hội An). Đến năm 1972, chim non nhớ tổ, Ngài trở lại Hòa An tiếp tục miệt mài kinh sử dưới sự giáo dưỡng trực tiếp của Bổn sư. 

Thế cuộc thăng trầm, đạo tâm chẳng chuyển. Năm 1975, Hòa thượng được đăng đàn thọ Sa-di tại chốn Tổ Ấn Quang (Sài Gòn). Sau đó, Ngài ngược về Tiên Phước tu học cùng Hòa thượng Sư huynh Thích Thiện Toàn, rồi nương gót về Hòa Mỹ (Núi Thành) rèn giũa dưới sự chỉ dạy của Hòa thượng Thích Giải Chiếu. 

Năm 1980, phẩm hạnh đĩnh đạc, uy nghi vững vàng. Hòa thượng được Bổn sư cho phép thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Thiện Hòa, do Trưởng lão Hòa thượng Thích Hành Trụ làm Đường đầu. Tự bấy giờ, Hòa thượng chính thức dự vào hàng “Chúng trung tôn”, cất bước siêu phương, gánh vác mạng mạch Như Lai chói lọi.

III. Thời kỳ hành đạo

1. Tham gia Phật sự Giáo hội:

Gót trần dẫu mỏi, tâm đạo không ngơi. Từ năm 1980 đến 1985, trụ bóng tại Hòa Mỹ, Hòa thượng miệt mài hoằng pháp, dìu dắt hậu học, sách tấn đạo tâm tín chúng. 

Năm 1985, Ngài về lại Hòa An, được Bổn sư giao gánh vác nhiệm vụ Tri sự và tận tâm nhiều Phật sự trọng yếu. Năm 1990, khi Bổn sư viên tịch, Ngài đến Đạo Nguyên nương uy đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Duyên để vun bồi phước trí. 

Khát khao nâng tầm tuệ giác, năm 1993, Hòa thượng theo học Khóa III tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (nay là Học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh).

Từ năm 1997 trở đi, Hòa thượng đảm trách Chánh Thư ký Ban Trị sự, rồi Phó Hiệu trưởng, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Quảng Nam. Trở thành người lái đò trí tuệ, Hòa thượng bền bỉ gieo hạt Tăng tài, kiến tạo nhiều thế hệ pháp khí tương lai.

Năm 2000, Hòa thượng được Giáo hội tin tưởng bổ nhiệm trụ trì chùa Long Hoa (Tam Kỳ). Từ năm 2002 đến năm 2022, qua nhiều nhiệm kỳ, Ngài giữ chức vụ Phó Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam; đồng thời đảm nhiệm nhiều vai trò tại Trung ương Giáo hội.

Năm 2002–2007: Chánh Thư ký Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương; Phó Trưởng ban kiêm Chánh Thư ký Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam.

Năm 2005–2022: Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học tỉnh Quảng Nam, người đã kiến tạo và nâng tầm học đường Phật giáo, đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài cho tỉnh nhà và khu vực. Năm 2005, Ngài được tấn phong giáo phẩm Thượng tọa.

Từ năm 2007–2012, Hòa thượng vẫn đảm nhiệm chức vụ: Phó Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương, Phó Trưởng ban Trị sự kiêm Trưởng ban Giáo dục Phật giáo tỉnh Quảng Nam. Năm 2012, Hòa thượng được tái suy cử giữ chức vụ Phó Trưởng ban Trị sự tỉnh; Hiệu trưởng trường Trung cấp Phật học tỉnh Quảng Nam; Ủy viên Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương; Ủy viên Dự khuyết Hội đồng Trị sự GHPGVN, nhiệm kỳ 2012–2017.

Năm 2017, Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2017 – 2022, Hòa thượng tiếp tục đảm nhiệm chức vụ, Phó Trưởng ban Trị sự, Trưởng ban Giáo dục Phật giáo, Phó Trưởng Ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam. Cũng trong năm này, Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ 8, Hòa thượng được suy cử vào Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN.

Năm 2020, Ngài được tấn phong giáo phẩm Hòa thượng. Năm 2022, Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Quảng Nam, Ngài được suy cử đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Trị sự – Trưởng ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam. 

Năm 2025, lịch sử xoay vần sáp nhập địa giới, Ngài đảm nhiệm chức vụ Phó Trưởng ban Thường trực Ban Trị sự kiêm Trưởng Ban Tăng sự GHPGVN Tp. Đà Nẵng. 

Tháng 4 năm 2026, Đại hội Đại biểu Phật giáo thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất, Ngài được suy cử đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Trị sự GHPGVN thành phố. 

Dù ở bất kỳ cương vị nào, Ngài luôn dốc cạn tâm huyết, lấy sự hưng thịnh của đạo pháp làm lý tưởng trọn đời.

2. Hoạt động xã hội: Nhập thế độ sinh, đạo đời dung hợp. Từ năm 2004 đến 2025, Ngài là Đại biểu HĐND tỉnh Quảng Nam nhiều nhiệm kỳ; đắc cử Đại biểu HĐND thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026-2031. Gắn bó với Ủy ban MTTQVN tỉnh Quảng Nam từ 2009 đến 2025), Ngài là nhịp cầu thắp sáng khối đại đoàn kết, minh chứng cho tinh thần người con Phật dấn thân giữa lòng đời.

3. Công hạnh phụng sự: Khắc cốt lời Tổ Quy Sơn: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương; tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng”, Ngài trọn kiếp dâng hiến. Trên bục giảng đường Đạo Nguyên, Hòa thượng dốc sức xây dựng cơ sở đào tạo quy củ. Tại chốn Long Hoa, Ngài giáo dưỡng hơn 50 vị học Tăng, chắp cánh cho họ hoàn mãn Phật học, trụ trì khắp các miền: Duy Trung, Yên Sơn, Đông Giang, Đồng Châu, Tân Bình, Thạnh Mỹ… Thân hành chẳng nệ gian lao, Ngài vượt suối đèo đến những vùng thâm u hẻo lánh: Lên Trà My, Nam Giang gieo mầm chánh pháp; Về Cù Lao Chàm, Tam Hải thắp sáng niềm tin. Những ngôi phạm vũ sừng sững mọc lên giữa đại ngàn, nhiều điểm sinh hoạt Phật giáo thành hình, tạc vào lịch sử một tinh thần kiến thiết không mệt mỏi.

4. Những vinh danh cao quý

Hơn nửa thế kỷ phụng sự miệt mài cho Đạo pháp và Dân tộc, những giọt mồ hôi thánh thiện đã hóa thành trân bảo. Hòa thượng được Nhà nước, Mặt trận và Giáo hội ghi nhận công đức qua nhiều bằng khen và danh hiệu đáng trân quý, như: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vì những đóng góp xuất sắc trong công tác an sinh xã hội; Kỷ niệm chương của Ủy ban Trung ương MTTQVN, cùng nhiều bằng khen của HĐND, UBND, Công an và MTTQVN tỉnh Quảng Nam liên tiếp nhiều nhiệm kỳ. Về phương diện Giáo hội, Ngài được Hội đồng Trị sự GHPGVN long trọng tuyên dương công đức đối với sự nghiệp đào tạo Tăng tài, cùng nhiều Bằng tuyên dương công đức của các cấp Giáo hội ghi nhận những cống hiến to lớn của Ngài trong sự nghiệp hành đạo. Đây không chỉ là sự ghi nhận, mà còn là minh chứng cho đạo hạnh và công lao hoằng pháp lợi sinh của một bậc Tăng-già chân chính.

5. Những ngày cuối đời

Đầu năm 2026 Hoà thượng lâm bệnh. Dù sức khoẻ suy giảm, Hoà thượng vẫn quan tâm Phật sự, sách tấn Tăng ni, động viên hoàn thành các công tác Giáo hội.

Trong 2 ngày diễn ra Đại hội đại biểu Phật giáo thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất, 12, 13 tháng 4 năm 2026, sắc tướng suy yếu, Hoà thượng không trực tiếp tham dự đại hội nhưng vẫn theo dõi Đại hội qua truyền hình trực tiếp.

Đặc biệt, sau khi Đại hội kết thúc, 14 giờ ngày 13 tháng 4 năm 2026, cơ thể  khoẻ hơn, Hòa thượng đến Trụ sở Ban Trị sự  (chùa Pháp Lâm), chủ trì phiên họp đầu tiên của tân Ban Trị sự nhiệm kỳ 2026 – 2031, chỉ đạo công tác tổ chức Đại lễ Phật đản, An cư kiết hạ PL. 2570.

 Nào ngờ đâu, đó là ngọn nến bừng sáng lần cuối của một kiếp nhân sinh vì đạo pháp! Vài ngày sau, gió nghiệp thổi mạnh. Dù Y bác sĩ tận tình chăm sóc, nhưng duyên trần đã mãn. Sáng ngày 25/3 năm Bính Ngọ (11/5/2026), kim đồng hồ điểm 08 giờ 20 phút, giữa tiếng hộ niệm ngân vang của môn đệ, Hòa thượng chào từ biệt rồi hiền từ nhắm mắt. Xả báo an nhiên, thâu thần thị tịch! Trụ thế 70 năm cõi mộng; Hạ lạp 46 năm rạng ngời.

Cuộc đời Hòa thượng là tấm gương sáng về đạo hạnh và chí nguyện phụng sự. Công hạnh và đạo nghiệp của Ngài là ngọn đuốc soi đường cho tinh thần nhập thế vô úy, là biểu hiện của hạnh nguyện đại bi, lấy sự an vui, giải thoát của chúng sinh làm lý tưởng không cùng tận. Hoà thượng chính là hình ảnh tiêu biểu của người Thích tử Như Lai: vào đời mà không nhiễm đời, ung dung giữa trần thế mà vẫn tỏa rạng đạo phong thanh tịnh. Tinh thần hoằng pháp lợi sinh và phụng sự đạo pháp – dân tộc của Hoà thượng sẽ mãi lưu dấu trong lòng Tăng Ni, Phật tử.

Bài mới đăng

Comments are closed.